Các dịch vụ mạng lớp Ứng dụng (Application)

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Các dịch vụ mạng lớp Ứng dụng (Application)

Bài gửi  PhanLePhuocLoc on Thu Apr 05, 2012 6:13 pm

Các dịch vụ mạng lớp Ứng dụng


1.Dịch vụ đăng nhập từ xaTELNET


Telnet là ứng dụng sử dụng giao thức telnet cho phép người dùng có thể đăng nhập vào một hệ thống ở xa và làm việc giống như đang sử dụng máy tính nội bộ vậy. Người sử dụng dùng chưng trình Telnet Client (chưng trình Telnet trên máy tính trên máy khách) thực hiện một số kết nối TCP với một Telnet Server (chưng trình phục vụ telnet trên máy chủ) ở cổng 23.


2.Dịch vụ truyền file FTP


Dịch vụ truyền File FTP (File Transfer Protocol) là một trong những dịch vụ sớm nhất ứng dụng giao thức TCP/ IP. FTP cho phép người dùng thực hiện các chức năng.
+ Sao chép.
+ Đổi tên.
+ Xóa file.
+ Tạo thư mục …..ở một hệ thống ở xa.

Hệ thống FTP ở xa thường yêu cầu người dùng cung cấp định danh ID và mật khẩu trước khi truy nhập hệ thống. Các máy chủ thường cung cấp hai dạng dịch vụ truy nhập.
* Truy nhập vào các file công cộng dùng chung qua tài khoản ẩn danh (Anonymous).
* Truy nhập vào các file riêng chỉ dành cho những người sử dụng với quyền truy nhập ở mức hệ thống. FTP sử dụng cổng TCP ở lớp Transport để truyền file một cách tin cậy. Tại FTP Server thì sẽ được gán các cổng cố định là 20, 21, còn ở Client thì sẽ được gán giá trị bất kỳ lớn hn 1023. Để có thể hoạt động FTP thiết lập 2 kết nối. Một cho login và theo đó là giao thức Telnet. Hai là cho qun lý truyền dữ liệu.


3.Trivial File Transfer Protocol (TFTP)


Mặc dù FTP là giao thức truyền tập tin tổng quát nhất trong bộ giao thức TCP/IP, nhưng nó rất phức tạp. Nhiều ứng dụng không cần đến tất cả các tính năng mà FTP cung cấp. Do đó người ta đưa ra một giao thức thứ hai cung cấp dịch vụ ít tốn kém và không phức tạp. Được biết dưới tên Trivial File Transfer Protocol (TFTP), giao thức này không cần đến những tưng tác phức tạp giữa client và server. TFTP giới hạn thao tác chỉ trong việc truyền tập tin và không cung cấp việc xác minh. Không giống như FTP, TFTP không cần dịch vụ chuyển tin đáng tin cậy mà nó sử dụng giao thức UDP của tầng Transport, có sử dụng cơ cế timeout và việc truyền lại để đảm bảo dữ liệu được truyền đến nơi nhận. Bên gửi truyền một tập tin theo những khối có kích thước cố định (512 byte) và đợi lờI xác nhận của mỗi gói tin trước khi gửi tiếp. Bên phía nhận gửi trả lời đã nhận sau khi nhận được mỗi khối.

[b]4.Network File System (NFS)



Được phát triển đầu tiên bởi công ty Sun Microsoft, Hệ tập tin mạng (Network File System-NFS) cung cấp việc truy xuất trực tuyến các tập tin dùng chung. Người sử dụng có thể thực hiện một chưng trình ứng dụng bất kỳ và sử dụng bất kỳ một tập tin nào trong việc xuất nhập. Bn thân tên các tập tin không cho biết chúng cục bộ hay ở xa. NFS là một RPC (Remote Procedure Call ).

5.Simple Mail Transfer Protocol (SMTP)


Giao thức SMTP là giao thức tiêu chuẩn trên Internet cho việc chuyển thư điện tử giữa các máy tính. SMTP được thiết kế để chuyển giao những thông điệp text đơn giản và cũng hỗ trợ cho những ứng dụng multimedia. SMTP thực hiện bên trên một phiên kết nối Telnet

Có hai thành phần chính trong SMTP: nơi gửi và nơi nhận. Nơi gửi được coi như là máy khách thực hiện lập một kết nối TCP với ni nhận đóng vai trò là máy chủ. Cổng tiêu chuẩn để thực hiện kết nối TCP là 25. Trong một phiên của SMTP, nơi gửi & nhận trao đổi một chuỗi các lệnh và trả lời.

6.Simple Network Management Protocol (SNMP)


Giao thức quản lý mạng chuẩn của TCP/IP là SNMP định nghĩa giao thức quản lý cấp để quản lý hai thao tác cơ sở: trích giá trị từ một biến và lưu trữ giá trị vào một biến.

7.Domain Name Service (DNS)


Đối với những người truy nhập Internet, việc nhớ nhiều địa chỉ IP cùng một lúc là rất khó. Do đó, các nhà thiết kế tạo nên những tên dễ nhớ. Người dùng muốn truy nhập đến địa chỉ nào thì chỉ việc gõ bàn phím những tên đó vào. Tuy nhiên, giao thức lớp mạng IP chỉ có thể hiệu và làm việc được với địa chỉ IP. Do vậy cần có sự chuyển đổi qua lại giữa tên và địa chỉ IP. Việc chuyển đổi tên thành địa chỉ được thực hiện qua hệ thống tên miền (Domain Name System – DNS). Hệ thống DNS thực chất là những CSDL (DNS database) chứa tên và địa chỉ tưng ứng cùng với các thông tin khác đi kèm.

8.Dynamic Host Configuration Protocol (DHCP)/BootP (Bootstrap Protocol)


Giao thức Bootstrap, gọi là BOOTP, cung cấp một cách khác với RARP cho máy tính nào cần xác định địa chỉ IP của nó. BOOPTP tổng quát hơn RARP vì nó sử dụng UDP, nên có thể mở rộng việc bootstrap đi qua bộ định tuyến. BOOTP cũng cho phép máy tính xác định địa chỉ của bộ định tuyến, địa chỉ server và tên của chương trình mà máy tính phải chạy. BOOTP được thiết kế đủ nhỏ và đn gin để chứa được trong bootstrap ROM. Client sử dụng địa chỉ Broadcast có giới hạn để thông tin liên lạc với Server, có trách nhiệm truyền lại nếu Server không trả lời. BOOTP hiệu qủa hơn RARP bởi vì một thông điệp BOOTP xác định nhiều dữ liệu cần thiết vào lúc khởi động, bao gồm địa chỉ IP của máy tính, địa chỉ của bộ định tuyến, và địa chỉ của Server.
Được thiết kế như là bước nối tiếp của BOOTP, Dynamic Boat Configuration Protocol (DHCP) là sự mở rộng của BOOTP trên một số phưng diện. Quan trọng nhất là DHCP cho phép server cấp phát địa chỉ IP một cách động. Việc cấp phát động là cần thiết đối với những môi trường mạng không giây (wireless), trong đó máy tính có thể kết nối và tách ra khỏi mạng một cách nhanh chóng.

PhanLePhuocLoc

Tổng số bài gửi : 18
Join date : 22/02/2012

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết